Giải ảo truyền thuyết Hùng Vương

* Chí sĩ Phan Bội Châu: “Hùng Vương không phải là thủy tổ”.

* Tại sao Đàng Trong không có lệ thờ cúng “truyền thuyết / huyền thoại Hùng vương” trong gần hai trăm năm?

* Một dân tộc nếu chỉ biết bái lạy “huyền sử” đủ kiểu, dân tộc đó khó ngóc đầu lên nổi.


1/ Cách đây hơn 80 năm, chí sĩ ái quốc lỗi lạc Phan Bội Châu đã phải gióng tiếng: “Sách xưa có câu “Vô trưng bất tín”, nghĩa là không có chứng cớ thì không lấy gì làm tin được” (bài “Ai là tổ nước ta? Người nước ta với sử nước ta”, đăng trên báo Tiếng Dân ngày 6/1/1934).

Từ kỷ Hồng Bàng, Lạc Long Quân & Âu Cơ cho đến Hùng vương 18 đời, theo phân tích của chí sĩ Phan Bội Châu, “hết thảy là truyện truyền văn, chớ không biết có thiệt hay không”.

Đừng đắm mình trong lối suy nghĩ lạc hậu “theo thuyết thần bí huyễn hoặc” nữa, mà “cần phải căn cứ vào sự thực” – là những nhân vật có thực, những sự kiện có thực.

Sự thực khởi nguồn DỰNG NƯỚC, theo cụ Phan Bội Châu, là “bà Trưng Nữ Vương chống cự với nước Tàu, mà khiến cho chúng ta được cái vinh dự độc lập”!

Cần nhấn mạnh: việc dựng nước của Hai Bà Trưng là sự kiện có thực, hoàn toàn tương phản với tính chất “huyễn hoặc” (chữ của cụ Phan Bội Châu) về điều được gọi là “Hùng vương dựng nước 18 đời”!

Nói thêm: Trong giảng dạy thời nay, nhiều em học sinh tưởng Hai Bà khởi nghĩa và dựng nền độc lập tại đồng bằng sông Hồng (miền bắc).

Kỳ thực, nào chỉ loanh quanh miền bắc mà toàn vùng Lĩnh Nam (gồm cả Quảng Đông, Quảng Tây) đều kết thành một lãnh thổ chung dưới thời Hai Bà Trưng! Mắc giống gì phải lờ đi sự thực này?

2/ Căn cứ theo dữ kiện lịch sử được ghi chép, kể từ khi nước ta bước vào kỷ nguyên độc lập tự chủ, dưới thời nhà Ngô, rồi Đinh, Lý, kể cả thời Trần, người Việt làm gì biết tới … “Hùng vương” là ai!

Theo nhà nghiên cứu Tạ Chí Đại Trường, những câu chuyện tương truyền về Hùng vương (“tương truyền” nghĩa là nghe nói, nghe đồn), lần đầu tiên được biết đến là trong “Truyện họ Hồng Bàng” của tập truyện “Lĩnh Nam chích quái”, xuất hiện… cuối thế kỷ 15 (năm 1492) thuộc đời Hậu Lê lận!

Trước đó, không có văn bản cổ xưa nào trong sử Việt nói đến Hùng vương.
(Tức là dưới thời Bắc thuộc, người Việt không hề biết đến ý niệm được gọi là “Hùng vương”. Thành thử tuồng cải lương “Tiếng trống Mê Linh” trưng ra cảnh dân chúng đánh trống giỗ tổ Hùng vương là chuyện trớt hướt)

Tác giả cuốn “Lĩnh Nam chích quái” tự nhận nhuận chính (nói nôm na là “biên tập”) từ một tác phẩm (?) của một danh sĩ đời Trần nhưng năm sinh lẫn năm mất của danh sĩ nào đó trong đời Trần cũng mờ mịt tuốt luốt.

Rồi cuốn “Lĩnh Nam chích quái” còn được sửa tới sửa lui nhiều lần muộn màng hơn nữa, vào thế kỷ 17-18.

3/ Chúa Tiên (Nguyễn Hoàng), sinh trưởng dưới đời Hậu Lê, nên ông biết tỏng “huyền thoại Hùng vương” có liên quan tới nhu cầu chánh trị của triều đình lúc bấy giờ. Truyền thuyết về “nguồn cội Hùng vương” – cùng với phả hệ “họ Hồng Bàng”, Lạc Long Quân/Âu Cơ – đã cho phép triều đình Đại Việt xác lập tư thế “bằng vai phải lứa” so với triều đình phương Bắc (nước Tàu).

Thành thử chúa Nguyễn Hoàng, sau khi định cõi Đàng Trong, rồi các đời Chúa Nguyễn kế tiếp đã không còn phải câu nệ với truyền thuyết gọi là “Tổ Hùng vương” mà vua Lê chúa Trịnh cổ súy ở Đàng Ngoài.

Bạn có biết, việc thờ cúng “huyền thoại” Hùng vương (có tính chất “huyễn hoặc”, xin mượn lại chữ này của cụ Phan Bội Châu) đã KHÔNG hiện diện, hoàn toàn vắng bóng tại Đàng Trong (từ phía nam sông Giang thuộc Quảng Bình cho tới Cà Mau).

Người Đàng Trong, do bối cảnh lịch sử, vậy là đã tự giải ảo cho mình khỏi sự thờ cúng “huyền thoại”!

Vắng bóng việc thờ cúng “huyền thoại HV” ở miền nam chí ít trong khoảng hai thế kỷ, thậm chí có thể vắng bóng lâu hơn nữa – kể từ lúc phân chia Đàng Trong / Đàng Ngoài cho tới lúc hai miền nam bắc thông thương trở lại trong hòa bình, thói quen thờ cúng “huyền thoại HV” ngoài miền bắc mới có cơ hội phát tán rộng rãi hơn trong miền nam về sau này.

4/ Chúng ta hiện nay không còn lạ gì với câu: “Dù ai đi ngược về xuôi / Nhớ ngày giỗ tổ mồng mười tháng ba”. Câu đó xuất phát từ thời nào?

Tưởng xuất hiện dưới đời Hậu Lê (là thời xuất hiện “truyền thuyết Hùng vương” thêu dệt về thuở nguyên thủy xưa lắc xưa lơ) cũng còn đỡ, té ra – theo nhà nghiên cứu sử Lê Văn Lan – câu ca dao đó ra đời trong phong trào yêu nước đầu thế kỷ 20!

Trên một tấm bia ở đền Hùng vương (tỉnh Phú Thọ) còn ghi: việc giỗ vào “mồng mười tháng ba” từ thời vua Khải Định vào năm 1917.

Việc giỗ này đáp ứng nhu cầu thờ cúng của cộng đồng dân cư địa phương và liên vùng quanh đó.

Trong khi kinh đô Phú Xuân của nước Đại Nam thì không xây đền thờ Hùng vương nào ráo trọi.

5/ Lạc Long Quân/Âu Cơ, một đàng là Rồng một đàng là Tiên, đẻ trăm trứng, đây là một huyền thoại mười mươi.

Hùng vương lại là con của bà Âu Cơ, tức Hùng vương được ấp từ trứng, thành thử cũng một giuộc huyền thoại.

Nếu đã gọi là “thờ cúng Hùng vương” thì phải trở ngược lên nguồn, thờ cúng Rồng (Lạc Long Quân) & Tiên (Âu Cơ) mới hợp lôgích hơn, hỡi những ai ưa dựng ra “Tổ” để thờ!

Ta nói, totem (vật tổ) Rồng – Tiên của người Việt cũng như totem sói Romulus của Ý, gà Gaulois của Pháp…, thảy đều hàm chứa “mật mã” về mặt triết học của mỗi dân tộc, thảy đều ẩn chứa cách nhận diện văn hóa đặc trưng để mà tìm hiểu. Và, hãnh diện hết sức.

NHƯNG, không ai đi thờ cúng totem hết, nhứt là trong thời đại khoa học ngày nay!

Lịch sử của người trần mắt thịt đòi hỏi phải “người thật, việc thật” (được kiểm chứng bởi các bộ môn khoa học). Đừng đem huyền thoại nhập vô lịch sử, dễ khiến lịch sử bị “lên đồng thường trực” lắm đa.

Một dân tộc nếu chỉ biết sì sụp, bái lạy “huyền thoại” đủ kiểu (hoàn toàn không có thực trong lịch sử; hoặc có, nhưng còn quá nhiều điều nghi hoặc, chưa kiểm chứng), dân tộc đó khó ngóc đầu lên nổi!