Trận Kỷ Dậu 4: Những khó khăn của Nguyễn Huệ trước trận chiến

Thường nhắc đến chiến dịch Kỷ Dậu người ta chỉ thích khen Nguyễn Huệ anh minh thần võ, hành binh thần tốc, chớp nhoáng, như một thần tướng nhà trời đánh đâu được đó, không ai cản nổi, điều này vô hình chung tạo thành một cái hình tượng rằng Nguyễn Huệ không gì không làm được, một tướng quân bách chiến bách thắng không kẻ địch nào có thể cản nổi, và do mải mê tôn vinh những thứ ấy, họ cũng bỏ mất đi hoặc trình bày rất sơ sài một phần quan trọng trong chiến dịch Kỷ Dậu, đó là: Nguyễn Huệ phải đối mặt với những khó khăn nào?

Như đã trình bày ở phần trước, phần lãnh thổ mà Nguyễn Huệ được phân cho là từ Thuận Hóa đến Nghệ An, thời gian nắm giữ Nghệ An cũng rất ngắn, về dân số ở đây cũng không đủ đông và giàu có để có thể nhanh chóng tổ chức ra những đội quân đông đảo, điều này cũng ảnh hưởng đến nhãn quan dùng người của Nguyễn Huệ mà mình sẽ trình bày ở phần sau.

Lễ hội Gò Đống Đa Hà Nội tưởng nhớ chiến thắng Kỷ Dậu của Nguyễn Huệ – Quang Trung và quân Tây Sơn.

Còn về vùng đất Bắc Hà, Nguyễn Huệ chỉ mới chiếm được thời gian ngắn, lòng người chưa tuân phục, các thế lực rồng rắn hỗn tạp mà Nguyễn Huệ cũng không thể đủ sức thu phục trong một sớm một chiều, cũng không thể phân rõ kẻ nào theo mình thật lòng, kẻ nào là cỏ đầu tường gió chiều nào theo chiều ấy, binh mã cho dù có tuyển mộ thêm thì trong thời gian ngắn cũng không thể phát huy ra sức chiến đấu cao, sĩ khí kém cỏi, dễ dao động, dùng đội binh ô hợp này mà đối chiến với quân Thanh thì chắc chắn chưa đánh đã bại.

Về mặt ngược lại, kẻ địch của NGuyễn Huệ khi đó là nhà Thanh, khi Tôn Sĩ Nghị điều binh đã phao tin rằng binh mã tiến xuống rất đông, đến cả 50 vạn tinh binh để làm kẻ địch khiếp sợ, danh tiếng của nhà Thanh lúc đó cũng rất vang dội vì đây là một nước lớn, có thể huy động tinh binh trăm vạn (theo cách nghĩ của đại đa số người khi đó).

Các bạn cũng đừng đánh giá thấp tác dụng của tin đồn trong chiến tranh, nhất là ở thời kỳ thông tin liên lạc còn hạn chế như thế này, việc cho rằng quân Thanh điều động binh lực rất lớn sẽ khiến rất nhiều thế lực ở đất Bắc Hà lúc đó lo sợ và nhanh chóng ngả về phía quân Thanh, kể cả là binh sĩ của Nguyễn Huệ cũng sẽ khó tránh khỏi suy nghĩ đang đối đầu với một cường địch quá mạnh không thể chống nổi, dù rằng
số lượng binh tinh nhuệ của nhà Thanh mặc dù chỉ 3 đến 5 vạn (Tham khảo bài trước) nhưng kết hợp với số lượng dân phu rất đông, nhìn vào quân số ngợp người như vậy cũng sẽ khiến quân sĩ sinh ra cảm giác đối địch với biển người khó mà địch nổi, sĩ khí vốn là một nhân tố rất quan trọng trong chiến tranh, đôi khi thậm chí có thể mang tính chất quyết định thành bại của một trận chiến.

Và cũng chớ nên quên một lực lượng quan trọng đó là số binh sĩ Phù lê, cần vương của Lê Chiêu Thống, các thổ quan địa phương, đội binh này tuy số lượng không đông đảo, nhưng số quân ít ỏi này đã triệt tiêu sạch sẽ lợi thế về địa lợi nếu có của quân Tây Sơn tại Bắc Hà, là lợi thế không nhỏ mà nước ta trước giờ luôn sở hữu khi phải đối đầu với quân xâm lược phương Bắc, không ít lần dựa vào nó để nghịch chuyển thế cục. Thậm chí nói một cách nào đó, quân Tây Sơn của Nguyễn Huệ mới là người lạ nước lạ cái ở đây.

Đấy là mối nguy ngay trước mặt mà Nguyễn Huệ phải giải quyết, nhưng còn đó chính là những mối hiểm nguy tiểm ẩn ở sau lưng.

Theo thư của linh mục người Bắc Thomas Dien đề ngày 18/02/1788 thì “vào cuối tháng Ba (năm 1788) khi Bắc vương (Nguyễn Huệ) đã thắng hai, ba trận quân đội của Tiếm vương Nhạc được cử tới đánh ông để trả thù việc ông làm cho anh ông mất thể diện vào năm 1787”

Xung đột này xảy ra ngay trước trận đánh Kỷ Dậu, điều đó nói lên rằng Nguyễn Huệ ngoài việc phải bôn tập để đối phó với quân Thanh còn phải giữ lại một lực lượng không nhỏ ở Phú Xuân để đề phòng bị tập kích phía sau, kể cả là sau chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa, sự phòng bị này của Nguyễn Huệ đối với Nguyễn Nhạc vẫn còn tiếp diễn.

Theo tài liệu Tokin 700: Năm 1791, người vợ đầu của vua Quang Trung mất. Giáo sĩ Serard đã gửi cho ông Letondal một bức thư tiết lộ một cuộc điều binh có quy mô lớn trong ngày tang của vợ lớn Quang Trung:

“Chánh hậu Quang Trung mất vào khoảng tháng ba và ông đã khóc bà một cách sầu thảm. Ông cử hành tang lễ linh đình vào cuối tháng 6. Dân Nam Hà đồn khắp nơi rằng ông đã băng hà vì quá đau buồn, tang lễ tốn kém làm cho cả phu nhân lẫn ông. Anh cả ông (chỉ Nguyễn Nhạc), cũng bị mắc lừa và tưởng rằng em ông là Quang Trung đã mất. Ông ấy dẫn đầu một đạo quân đến kinh đô Phú Xuân với mục đích chiếm thành phố và sau đó lấy cả Bắc Hà. Nhưng khi tới nơi ông được biết mình đã bị lừa và lại quay về”

Bức thư này được gửi từ La Đăng, Bố Chính, địa danh đã giới thiệu ở cuốn “Đất nước Việt Nam qua các đời” của học giả Đào Duy Anh, có vị trí không quá xa Phú Xuân. Thời gian gửi thư là ngày 17/7/1791 (tức là chỉ 4 tháng sau khi vợ lớn của Quang Trung mất).

Ngoài ra không thể không kể đến những động thái của Nguyễn Ánh. Khi Tôn Sĩ Nghị tiến quân qua nước ta, Nguyễn Ánh đem 50 vạn cân gạo qua để giúp lương cho quân Thanh, điều này được ghi nhận trong Đại Nam thực lục như sau:

“Mùa hạ năm Kỷ dậu [1789], vua (tức Nguyễn Ánh) nghe tin người Thanh đem quân Lưỡng Quảng vì nhà Lê mà đánh giặc Tây Sơn, bèn sai sứ thần là bọn Phan Văn Trọng và Lâm Đề mang thư sang Thanh và đem 50 vạn cân gạo giúp lương cho quân. Gặp bão đắm cả ở biển lâu không nghe tin tức. Đến đây nghe tin quân Thanh bị giặc đánh bại, đã không đánh lại mà còn phong cho [giặc]. Vì vậy mới sai Đình Đắc đi dò tin tức vua Lê, nhân tiện chiêu dụ những hào kiệt Bắc Hà.”

Nếu chỉ từ phía Nguyễn Ánh mà xét, đây là một động thái thông minh của Nguyễn Ánh, tình trạng lúc đó của Nguyễn Ánh là không sáng sủa gì, mặc dù nhân dịp Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ nội chiến mà Nguyễn Ánh có thể tranh thủ thời gian gây dựng và phát triển thế lực của mình, nhưng chênh lệch giữa hai bên vẫn là rất lớn, nếu Nguyễn Huệ xuôi quân Nam hạ, Nguyễn Ánh khó lòng mà chống đỡ nổi, do đó sự xuất hiện của nhà Thanh không khác gì ngọn đèn cứu mạng giữa đêm tối.

Mưu tính của Nguyễn Ánh kỳ thực không có gì khó hiểu đó là lợi dụng sự can thiệp của nhà Thanh khiến Tây Sơn phải chú trọng vào mạn Bắc, nếu may mắn Nguyễn Huệ bị diệt, lúc đó bằng vào 50 vạn cân gạo này, Nguyễn Ánh sẽ có cơ hội được giao hảo với nhà Thanh, thậm chí có thể được chọn làm người quản lý miền Nam như theo ý nguyện của Càn Long ban đầu tính giao cho Chiêm Thành cũng không phải là lạ, nếu chiến sự dằng dai có thể tận dụng lúc nhà Thanh tiến xuống phía Nam diệt Tây Sơn mà đánh lên, có thể cùng phối hợp với Xiêm La, Vạn Tượng bốn mặt cùng tiến, Tây Sơn ắt hẳn sẽ bị diệt vong. Đó là một hoàn cảnh tốt đẹp nhất ở thời điểm đó đối với Nguyễn Ánh.

Đây không phải là đoán mò vì thực tế là sau trận Kỷ Dậu không lâu, Nguyễn Huệ cũng phải đối mặt với việc ba mặt giáp công. Một mặt là của lực lượng thân nhà Lê hoạt động ở phía Bắc, Lê Duy Chi được sự hợp tác của các tù trưởng Hoàng Văn Đồng, Nông Phúc Tấn đẩy mạnh hoạt động ở Cao Bằng, Tuyên Quang. Duy Chi tìm cách liên kết với các tù trưởng người Vạn Tượng để chống Tây Sơn. Nước Xiêm La khi đó cũng muốn trả thù Tây Sơn sau Trận Rạch Gầm – Xoài Mút nên tìm cách khống chế nước Vạn Tượng và tràn sang tác động tới các tù trưởng người Việt ở Trấn Ninh, Quy Hợp xứ Nghệ An và liên lạc với cựu thần nhà Lê là Trần Phương Bính. Xiêm La cũng liên lạc với Nguyễn Ánh ở Gia Định để cùng Duy Chi tổ chức tấn công Tây Sơn.

Theo kế hoạch này, quân Duy Chi sẽ đánh xuống từ Cao Bằng, Nguyễn Ánh đánh lên từ Gia Định, còn quân Vạn Tượng và Xiêm sẽ đánh vào Thanh Hóa, Nghệ An. Tuy nhiên lúc đó sau khi giải quyết xong quân Thanh và nắm giữ Bắc Hà, quân đội của NGuyễn Huệ đã có sự lột xác cả về số lượng và chất lượng, thế ba mặt giáp công này đã bị Nguyễn Huệ dễ dàng bẽ gãy.

Như vậy ta có thể thấy được, tình thế mà Nguyễn Huệ phải đối mặt lúc này là rất ác liệt, trong tình trạng không thể huy động quá nhiều binh tinh nhuệ tại Phú Xuân, Nguyễn Huệ lại bắt buộc phải giải quyết thế khó ở Bắc Hà một cách nhanh nhất có thể, bởi vì kéo dài thì lúc đó kẻ địch mà Nguyễn Huệ phải đối mặt không chỉ là quân Thanh hay nhóm người Phù Lê ở Bắc Hà kia, mà là cả đống cường địch xung quanh muốn bỏ đá xuống giếng, dây máu ăn phần.

Thành bại của trận chiến Kỷ Dậu, do đó cũng chính là một bước ngoặt quan trọng, không chỉ là đối với Nguyễn Huệ, nhà Lê, Tây Sơn, Nguyễn Ánh, mà còn là nhân tố quyết định vận mệnh của nước ta tiếp đó sẽ rẽ theo con đường nào.

Minh Đức