Trận Kỷ Dậu 7: Bao nhiêu quân Nguyễn Huệ tham gia

Trước nay có một lối mòn tư duy trong quân sự đó là chúng ta thường đánh giá sức mạnh của một đội quân dựa trên số lượng của đội quân đó. Điều này dẫn đến trong nhiều trường hợp chúng ta sẽ đánh giá sai về cán cân sức mạnh của hai bên. Một đội quân đông hơn chưa hẳn đã là đội quân mạnh hơn.

Sức mạnh của một đội quân bao gồm nhiều nhân tố, trong đó ba nhân tố cơ bản để đánh giá đó là dựa trên: Trình độ huấn luyện – kinh nghiệm chiến đấu, trang bị – vũ khí, và số lượng. Hay gộp cho chẵn đó chính là chất lượng và số lượng.

Nói một cách đơn giản, một đôi lão binh tinh nhuệ tầm 500 người có thể diệt gọn 2,3 ngàn tân binh mới tuyển mộ mà không có bao nhiêu tổn thất là chuyện hết sức bình thường, các chiến tích lấy ít địch nhiều kiểu này đầy rẫy trong lịch sử và thường cũng chính là do một đội binh tinh nhuệ đánh bại một đám binh ô hợp đông đúc. Chúng ta dễ mờ mắt bởi những đánh giá kiểu như: ông nào đó dùng vài vạn binh đuổi giết mấy chục vạn quân địch, mà không đi vào tìm hiểu xem kinh nghiệm chiến đấu, vũ khí giữa hai bên có sự chênh lệch như thế nào.

Thêm vào đó, quân đông hơn tức là bạn phải có nhiều thứ phải lo hơn, cả về hậu cần, quân lương, tiếp viện, liên lạc, hiệu lệnh chỉ huy …, chỉ riêng việc hiệu lệnh cho một cánh quân lớn vài ngàn đến vài vạn người biết khi nào cần tiến khi nào cần lùi cũng đã là cả một vấn đề, nhất là với binh sĩ mới tuyển mộ, việc binh sĩ sợ hãi bỏ chạy dẫn đến “binh bại như núi đổ” quân đè lên nhau mà chết là chuyện không hề lạ gì trong lịch sử, cho nên hỏi bất cứ một vị tướng lĩnh tầm khá nào trở lên họ cũng sẽ đều bảo bạn: “Binh quý ở tinh, chứ không quý ở đa” là như vậy.

Cho nên, để đánh giá cho đúng về cán cân sức mạnh của quân Thanh và quân Tây Sơn trong trận Kỷ Dậu chúng ta hãy xem qua về lực lượng, kinh nghiệm chiến đấu, và vũ khí của từng bên, tư liệu mặc dù rất ít ỏi và rời rạc nhưng ít nhất cũng sẽ cho chúng ta một chút hình dung về bố cục trận chiến năm đó.

Đối với hầu hết các danh tướng, họ đều sẽ có một đội thân binh, thân binh chính là những binh sĩ tinh nhuệ hàng đầu, kinh nghiệm chiến đấu, trang bị vũ khí và sự trung thành cũng là cao nhất, ở Nguyễn Huệ đội quân này của ông ta chính là thân binh Thuận – Quảng bao gồm những binh sĩ ở Thuận Hóa và Quảng Nam, có cả người Thượng và người Hoa, những người đã theo Nguyễn Huệ chiến đấu từ những ngày đầu tiên và rất thiện chiến.

Dấu tích của những đội quân này được ghi chép rất ít, nhưng có thể hình dung một chút về mặc trang phục như Hoàng Xuân Hãn chép “quân Tây Sơn cầm cờ đỏ tháp lông gà nhuộm đỏ, gọi là cờ hồng mao” Lê Quí Dật Sử thì viết quân Tây Sơn mặc áo màu đỏ tía, chỏm mũ đính lông chiên đỏ, vũ khí dùng tên lửa buộc trên đầu ngọn giáo gọi là hỏa hổ”, Đại Nam quốc sử Diễn ca có ghi:

“Quân dung đâu mới lạ nhường
Mão mao, áo đỏ chật đường kéo ra”

Người miền Bắc thường gọi những quân này như man binh, cuồng Chiêm hay quân Quảng Nam. Không giống quân miền Bắc, quân Tây Sơn bao gồm rất nhiều sắc tộc và vùng miền khác nhau, khác biệt cả về văn hóa lẫn ngôn ngữ, do đó hiệu lệnh trong quân thường dùng bằng tiếng chiêng, hoặc trống trận, điều này được thể hiện trong một số tư liệu khi ra Bắc quân Tây Sơn đã cấm dân chúng không được đánh trống để tránh lẫn lộn với hiệu lệnh quân sự.

Nói một chút về người Thượng, một thành phần quan trọng nhưng lại ít người biết, hay chú ý đến trong cơ cấu quân đội Tây Sơn.

Khác với ngày nay, khi các ranh giới lãnh thổ quốc gia đã được quy ước một cách cụ thể và phân biệt rõ ràng thì vào cuối thế kỷ 18, có rất nhiều khu vực là bao gồm những bộ tộc khác nhau sống du canh, du cư và rải rác không thống nhất, đặc biệt nhiều ở khu vực Tây Nguyên, Trấn Ninh, khu vực biên giới giáp ranh giữa nước ta với Lào, Campuchia ngày nay.

Và mặc dù sử sách không có ghi chép đầy đủ, nhưng quân Tây Sơn chắc chắn có bao gồm một lực lượng lớn những đồng bào thiểu số, không chỉ trong vùng Qui Nhơn mà gần như toàn cõi Tây Nguyên, kể cả Nam Lào và Bắc Campuchia ngày nay – Nguồn: Việt Thanh Chiến Dịch Nguyễn Duy Chính.

Ngay cả cái tên gọi Tây Sơn nơi dấy binh của quân Tây Sơn cũng không phải chỉ dùng để chỉ một vùng nhỏ bé ở Qui Nhơn, mà là cả một khu vực rộng lớn, đất ở phía đông đèo Mang gọi là Tây Sơn hạ đạo, phía Tây trở lên chen lẫn trong rừng rậm và núi gọi là Tây Sơn thượng đạo, không phân biệt các sắc tộc.

Khu vực này có nhiều đoàn thương nhân (caravan) đã lợi dụng để thiết lập nhiều đường dây mua bán tới tận Miến Điện, Xiêm La và Nam Trung Hoa, những thương dân này rất đa dạng bao gồm cả người Thái, người Shan, Người Hoa, người Bhamo (Ở Miến Điện) … Ảnh hưởng của Tây Sơn ở khu vực này có lẽ bắt nguồn từ việc buôn bán của anh em nhà Tây Sơn, chính Nguyễn Nhạc cũng là một đầu nậu trong những đoàn buôn bán ở nơi đây, qua đó mà thông thạo đường sá, phong tục của Tây Nguyên. Đến khi Nguyễn Huệ làm chủ được Nghệ An và miền Bắc thì ảnh hưởng của Nguyễn Huệ đã bao trùm từ khu vực Tây Nguyên sang tới khu vực Thượng Lào.

Trong một bức thư gửi cho Càn Long để biện giải lý do vì sao chưa dùng ấn vàng mới được phong có câu: “.. Thăng Long là kinh đô cũ của các triều đại trước, vượng khí đã tan hết, kẻ hèn này mới xây một ấp mới nơi Nghệ An, kiến lập triều đình, tông miếu, nơi đó hẳn là lập được nghiệp, tính kế lâu dài, lại là nơi trung tâm của bản quốc, tây có Ai Lao, Nam có Chiêm Thành, Cao Miên đều là thuộc quốc …”

Việc Nguyễn Huệ có thể sử dụng những tuyến sơn lộ ở những khu vực này một cách rành rẽ, không chỉ trước đó và trong trận Kỷ Dậu, mà cả sau này trong việc lập kế hoạch đi vòng đánh chặn đường lui của Nguyễn Ánh, cũng như huy động được một lượng lớn nhân lực, vật lực, binh sĩ, voi chiến ở đây, cũng chứng tỏ rằng ảnh hưởng của Nguyễn Huệ ở khu vực này là không nhỏ.

Với ảnh hưởng đó cũng như tiếng tăm về mặt quân sự của Nguyễn Huệ sau trận Kỷ Dậu, nếu Tây Sơn tồn tại lâu dài, có lẽ việc sát nhập khu vực Tây Nguyên và Trấn Ninh vào bản đồ Đại Việt sẽ không cần đến hơn 200 năm.

Ở trên mình đã nhắc đến đội thân binh Thuận Quảng của Nguyễn Huệ, đây là đội binh gần như chắc chắn có tham gia trong trận Kỷ Dậu, nhưng số lượng là bao nhiêu thì không rõ ràng, căn cứ theo việc Nguyễn Huệ phải bố trí lực lượng để phòng thủ mạn Nam của mình để đối phó với các nguy cơ sau lưng như từ Nguyễn Ánh, Xiêm, Ai Lao và nhất là Nguyễn Nhạc thì số lượng quân này có lẽ sẽ không quá lớn.

Phần binh tham gia tiếp theo ở Trận Kỷ Dậu nữa thì phải kể đến tân binh mới tuyển mộ ở Thanh Nghệ, theo tư liệu của một số giáo sĩ thì tuyển thêm được khoảng vạn người, tài liệu khen Tây Sơn thì bảo là dân tình nô nức tòng quân, tài liệu khác đáng tin hơn thì là do chính sách cưỡng bách tòng quân của Tây Sơn. 
Mặc dù lượng quân tình nguyện gia nhập chắc chắn là có, trong tình trạng đói kém, loạn lạc, tòng quân cũng là một cách để có cái ăn, để sinh tồn, nhưng càng nhiều hơn chính là bị bắt lính. Kỳ thực tuyển được vạn người ở Thanh – Nghệ cũng đủ để thấy sự hà khắc này, vì lính tráng nơi đây đã bị các thế lực vét tới vét lui mấy đợt từ trước khi quân Tây Sơn vào rồi.

Theo tài liệu của các giáo sĩ và sử nhà Nguyễn, Tây Sơn có chính sách cưỡng bách tòng quân cực kỳ hà khắc, khiến cho có nơi thậm chí không còn đàn ông. Việc tuyển quân này dường như được giao cho các tướng lĩnh dưới quyền, và phân vào trong quân bản bộ của họ, bắt nhiều hay ít lại là tùy theo mỗi người do đó các tướng lãnh thường rất gay gắt và cứng rắn trong việc bắt dân tòng quân.

Tuy nhiên theo một số tài liệu khác thu thập được, thì việc hà khắc này có vẻ không phải chỉ là “đặc sản” của mỗi Tây Sơn:

Ở miền Bắc: “… mùa này tháng Mười (AL) đã bị mất vì đại hạn vào mùa hè năm trước. Gạo cũ của mùa trước thì bị vơ vét vào kho lương địch thành thử ngay cả lái buôn cũng chết đói (có cả dịch bệnh nữa) …

Người dân bị tham quan nhũng nhiễu, sưu cao thuế nặng, nên có làng chết mất một nửa hay đến ba phần tư, những người còn lại thì đều bị bắt đi lính cả. Những tỉnh địa đầu như Thanh Nghệ còn bi đát hơn.” – Lá thư Lefro gửi Bandin

Trong cuộc hành quân của Tôn Sĩ Nghị cũng có nhắc đến điều này khi đi qua các làng mạc khu vực biên giới, rất nhiều xác người chết đói, xương trắng để lăn lóc không ai dọn dẹp.

Tình hình bắt lính vào cuối thời chúa Nguyễn (trước khi Trương Phúc Loan lạm quyền): “… Nhân hỏi chuyện, biết rằng, trong nước trăm thứ thợ đều do quân nhân làm. Mỗi năm vào khoảng tháng Ba, tháng Tư, quân đi ra các làng, bắt dân từ 16 tuổi trở lên, những người thân thể cường tráng, đóng gông lại bằng một cái gông tre nhưng hẹp hơn, để giải về phủ sung quân, vào quân đội rồi, mỗi người bắt học một nghề, kế đó phân phái theo các chiến thuyền luyện tập, có chiến tranh đem ra đánh giặc, lúc vô sự ở theo vương phủ làm xâu, tuổi chưa đến 60, chẳng được về làng cùng cha mẹ vợ con đoàn tụ, hằng năm chỉ cho thân thích đem quần áo vật thực đến thăm mà thôi. Vì cớ ấy, những dân còn lại ở nhà, toàn gầy yếu tàn tật, chẳng có mấy người mạnh mẽ”- Trích Hồi Ký của Thiền sư Thích Đại Sán (trong ảnh)

Ở khu vực kiểm soát của Nguyễn Ánh: “…Những người dân đang sống dưới quyền kiểm soát chính trị của chính thế lực nhà Nguyễn ở sâu trong miền nam… mong đợi được giải thoát khỏi họ. Đến cả Pigneau de Behaine (Bá Đa Lộc), ủng hộ viên người Âu nhiệt tình nhất của Nguyễn Ánh, vào năm 1791, cũng đề cập đến điều này, khi ông viết về tình cảnh ngày càng không chịu đựng nổi của những người dân Việt sống trong vùng nhà Nguyễn kiểm soát”

“… sau đó (khi họ Nguyễn lại kiểm soát Nam Bộ), hoàn cảnh sống của người dân dưới chính thể nhà Nguyễn vẫn chẳng hề được cải thiện; điều này được mô tả trong thư của một nhà truyền giáo người Pháp khác, rằng “hai năm vừa qua, mọi người đều phải đi làm việc công ích, và [người ta] không bận tâm với bất kì điều gì khác ngoài việc tìm cách để sống sót, đau khổ đã trở nên đến cực điểm” – GS George Dutton, khoa Ngôn ngữ và Văn hóa châu Á, Đại học California tại Los Angeles, Bài trình bày tại Hội thảo quốc tế Việt Nam học lần 2, TP. HCM, 7/2004

Có thể thấy rằng đây là một thời kỳ khốn khổ đến cùng cực của người dân Việt Nam ở cả hai miền Nam Bắc.

Trở lại với vấn đề thành phần quân lực Tây Sơn trong trận Kỷ Dậu, tân binh mới tuyển mộ có vẻ chiếm một thành phần không nhỏ, theo nhận định của Tạ Chí Đại Trường, Nguyễn Huệ ưa thích sử dụng chiến thuật biển người, thích cách đánh thí quân, và tân binh mới tuyển là một lực lượng tổn thất nặng khi Nguyễn Huệ đánh trận kiểu này.

Tuy nhiên, về nhận định này thì mình không đồng ý, không phải là vì mình đánh giá Nguyễn Huệ là người hiền lành nhân hậu gì cả mà bởi vì đánh kiểu đó sai lầm rất lớn về mặt chiến thuật.

Nói đến trận chiến Kỷ Dậu từ những gì ghi chép của quân Thanh và sử nhà Nguyễn có thể thấy, Nguyễn Huệ đánh bằng cách sử dụng yếu tố bất ngờ cùng sự áp đảo về binh lực và hỏa lực để chiếm ưu thế và dứt điểm trận chiến, cô lập và tiêu diệt các điểm đóng quân của quân Thanh với tốc độ rất nhanh trước khi quân Thanh kịp điều chỉnh và đưa ra các sách lược phản công thích hợp.

Cách đánh này, mấu chốt thành bại nằm ngay ở khả năng chiến đấu và tốc độ đột phá của đội quân xung kích tiên phong, việc chững lại của đội tiên phong sẽ dẫn đến cả cánh quân bị chững lại và rất dễ thất bại. Sử dụng tân binh trên tuyến đầu sẽ rất khó hình thành sức chiến đấu hữu hiệu, quân kỷ cũng chưa nghiêm minh, nếu những tân binh này hoảng sợ chạy lùi lại sẽ khiến thế công bị dừng lại ngay tức khắc, binh sĩ phía sau không thể tiến lên tạo thành một thất bại dây chuyền.

Cho nên bảo rằng có thể sử dụng tân binh trong quân xung kích tiên phong là một ý nghĩ không thực tế, trừ khi tướng lĩnh tài đến mức có thể khiến đám quân mới tuyển hết lòng hết sức theo mình không do dự, thấy quân địch lao vào đánh cảm tử như không cần mạng thì may ra việc thí quân này mới có tác dụng, nhưng bảo Nguyễn Huệ tài cỡ nào chứ tài đến cỡ này thì mình không tin.

Do đó, vai trò và sự tham gia của những tân binh mới tuyển mộ này, theo thiển ý của mình thì có ba mục đích chính:

– Đóng vai trò như quân phu, vận chuyển lương thực, vũ khí, pháo, mở cầu đường

– Để luyện binh. Một vấn đề đau đầu của các tướng lĩnh là: Làm cách nào để biến tân binh thành binh sĩ tinh nhuệ? Huấn luyện là một phần nhưng để cảm nhận được sự ác liệt thì không nơi đâu bằng chiến trường thực sự, một người tân binh đã thấy qua cảnh máu lửa, đã từng vung kiếm giết người có khác biệt rất lớn với tâm lý của những người mới tham gia chiến trận, sự khác biệt đó trong nhiều trường hợp đủ sức để san bằng chênh lệch trong huấn luyện. Do đó, dễ thấy là Nguyễn Huệ luôn muốn các tân binh phải trải qua chiến trường.

– Và một mục đích quan trọng đó là sử dụng để nghi binh, thu hút sự chú ý của quân Thanh, cũng như khiến cho quân Thanh thêm chủ quan.

Trong thư của một số giáo sĩ như của Giáo sĩ Le Roy đã tả đạo quân của Quang Trung bao gồm cả trẻ con, người già trông như một toán bệnh nhân ốm yếu hơn là một đoàn chiến binh.

Đây có lẽ chính là bộ mặt mà Nguyễn Huệ muốn trưng ra cho quân Thanh thấy để khiến Tôn Sĩ Nghị thêm phần lơ là mất cảnh giác, trong khi các cánh quân chủ lực của Nguyễn Huệ đang bí mật hành quân qua các tuyến đường bí mật khác.

Nhưng vấn đề ở đây là: Trong tình trạng không thể huy động quá nhiều thân binh Thuận – Quảng, tân binh mới tuyển có sức chiến đấu kém cỏi, cùng lắm thì thêm một đội quân của Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân mà tài liệu đề là 3000 (hoặc 8000, cứ cho luôn là một vạn), kể cả như vậy thì cùng lắm binh lực chỉ ngang ngửa với quân số thực của quân Thanh.

Thì từ đâu mà Nguyễn Huệ có thể huy động được binh lực đạt đến mức áp đảo và hủy diệt các cánh quân của Tôn Sĩ Nghị một cách chóng vánh như vậy?

Có một thành phần dân chúng trong xã hội đã bị lịch sử bỏ quên trong một thời gian dài, đó là những người làm nghề chài lưới, có khi họ sống hẳn trên thuyền như một loại nhà nổi dọc theo duyên hải, sinh nhai chính là đánh cá và sản xuất những sản vật trực tiếp từ biển khơi như muối, rong biển, hải sản.

Họ sống rất thầm lặng và thậm chí không được liệt kê vào bốn thành phần cơ bản của xã hội phong kiến (Sĩ, công, nông, thương) mà chỉ được coi như những sinh vật dưới con người, trên cầm thú một chút.

Vì trên thực tế, ngày đêm sống quây quần với gia đình và đồng bọn trong biệt lập, sinh hoạt của họ rất đơn sơ, tiếng nói cũng hạn chế, hiếm người biết chữ. Dấu tích của thành phần này đến nay vẫn còn hiện hữu ở một số khu vực duyên hải nước ta.

Trong nhiều thời kỳ, mỗi khi động binh chiến đấu, tài sản, thuyền bè vật sinh nhai chính của họ thường bị trưng dụng hay tịch thu vào lực lượng triều đình, cả người lẫn vật mà không được đền bù gì cả.

Nếu sử sách chép rằng, quân ta đem đi 1000 chiến thuyền thì điều đó có nghĩa là phần lớn phương tiện của ngư dân bị xung vào quân đội trong một nhiệm vụ đoản kỳ.

Do đó, cuộc sống của những thành phần này đa phần đều rất cơ cực, nguy hiểm, bị đe dọa bởi cả thiên tai khắc nghiệt lẫn sự áp bức của triều đình, ngoài việc tiếp tục kế thừa nghề nghiệp của ông cha, hoặc tham gia vào các toán cướp biển thì họ không biết con đường sinh tồn nào khác, sống theo kiểu đến đâu hay đến đó, không biết được con đường của ngày mai.

Cho đến một ngày, những người này lọt vào tầm mắt của một người, Nguyễn Huệ.

Để thực hiện tham vọng to lớn của mình trong khi bị giới hạn lại bởi những vùng tài nguyên cằn cỗi, lương thực thiếu thốn và dân số không đông đảo mà ông ta cai quản, nhãn quan dùng người của Nguyễn Huệ do đó không còn giới hạn trong việc dùng những người đồng tộc, thân thuộc, hay ở địa phương gần gũi nữa mà trở nên rất rộng rãi, không hạn chế trong những suy nghĩ, hay lề thói thông thường.

Điểm Nguyễn Huệ nhắm đến ở những người này đó chính là: Khả năng chiến đấu, sự phục tùng chỉ huy một cách tuyệt đối và cứng nhắc cùng sự thông thạo thủy chiến, và rành rẽ biển cả của họ.

Đối với những người này, chiếc thuyền gần như là một nơi cư ngụ, nơi làm việc và toàn bộ tài sản của họ, một thế giới tách biệt, do đó họ nảy sinh một tình cảm phục tùng tuyệt đối người chỉ huy (hay thuyền trưởng).

Thuyền trưởng cũng là người phải luôn làm gương cho người khác, chứng tỏ sự vượt trội của mình với những người xung quanh để giữ được quyền chỉ huy, chính vì tập quán tự nhiên đó hình thành nên những tập thể sống chết với nhau trong nghề nghiệp cũng như chiến đấu, chỉ tuân phục những người mạnh mẽ có cùng một cá tính như họ, điều đó lý giải vì sao họ quyết đi theo Nguyễn Huệ mà dần dần bỏ rơi Nguyễn Nhạc.

Ngoài thu phục những thành phần này ở Đại Việt thì Nguyễn Huệ cũng nhắm đến một thành phần tương tự nhưng xa xôi hơn và cũng hung hăng, thiện chiến hơn rất nhiều, hải tặc biển Đông.

Cướp biển Đông phần lớn xuất thân từ dân chài hoặc thủy thủ và sau này xoay sang thành cướp vì nhiều lý do, tham lam, thích phiêu lưu, cơ hội hoặc do sự chèn ép từ triều đình, nhất là khi bị đẩy đến đường cùng trong chiến tranh.

Cướp biển đã luôn là một vấn nạn đau đầu với nhiều quốc gia và hoành hoành nhiều thế kỷ liền, nhưng chưa trở thành một lực lượng đáng kể vì một số hạn chế cơ bản như thiếu căn cứ địa trốn tránh và tiếp vận.

Thế nhưng đến cuối thế kỷ 18, Nguyễn Huệ đã nhìn ra được tiềm năng của đám người này và trở thành một thủ lãnh tập hợp được nhiều nhóm khác nhau.

Theo một số tài liệu mới khi chính quyền Đài Loạn cho phép nghiên cứu những tài liệu còn đang lưu trữ trong văn khố của họ, thì các bài chuyên khảo đã tìm ra một số sử liệu xác thực về việc Nguyễn Huệ không chỉ thu dụng những đám cướp biển Tàu ô để quấy phá miền nam nhà Thanh mà còn thực sự biến chúng thành những đội thủy binh, có tổ chức và hệ thống, dọc cũng như ngang, được phân bổ hoạt động trong những vùng lãnh hải khác nhau một cách rõ ràng và minh bạch.

Robert J.Antony đã nhận ra rằng ở cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19, cướp biển Đông đã tập hợp thành một vài nhóm, có đến hàng ngàn chiến thuyền, tổng cộng đến hơn 7 vạn người.

“Đối với đám hải khấu lẻ tẻ vùng Quảng Đông, Phúc Kiến, Chiết Giang và Giang Tô, Nguyễn Văn Huệ được gọi là Đại Ca Việt Nam, là người bán những đồ họ cướp được và chia cho họ từ 20 đến 40% số tiền.

Những bọn cướp lớn cũng được Hoàng đế che chở vì họ không những được phép neo thuyền tại vùng biên giới (Trung Hoa và Đại Việt) để tuyển quân và trộm lương mà còn có thể dùng Việt Nam như một “sào huyệt” để rút về. Bọn hải khấu đó coi nhà vua như chủ nhân của họ vì dưới quyền của ông, họ có thể thu hoạch nhiều nguồn lợi từ biển cả”

Theo Ngụy Nguyên trong Việt Thanh chiến sử thì Nguyễn Huệ không chỉ là đại ca của đám hải khấu này mà còn vươn tầm tay và sức ảnh hưởng của mình đến cả những giáo phái như Bạch Liên Giáo và Thiên Địa Hội đang quấy phá Trung Nguyên từ Hồ Bắc đến Hồ Nam, Tứ Xuyên, Quảng Đông kéo dài trong nhiều năm.

Bốn người nổi danh trong số những dương đạo hùng cứ biển Đông lúc đó dưới quyền Nguyễn Huệ là: TRương Bảo, Ô Thạch Nhị, Vương Quí Lợi, Trịnh Thất.

Theo một số tài liệu và biểu đồ nhà Tây Sơn tổ chức hải phỉ, nhiều nhóm được phân ra theo tên gọi như Phượng Vĩ, Tiểu Miêu, hoặc có khi chia theo màu cờ như Thanh Kỳ, Hồng Kỳ, Hoàng Kỳ, Hắc Kỳ, Lục Kỳ, mỗi nhóm có một vùng hoạt động riêng, những thủ lãnh được phân bổ chặt chẽ.

Chúng ta biết được rằng, ngoài lực lượng hải quân chính quy Tây Sơn, chẳng hạn như hạm đội của Vũ Văn Dũng được mô tả theo lời của Barixzy như sau (Đây là thời điểm sau trận Kỷ Dậu một vài năm):

Bao gồm: 673 chiến thuyền lớn nhỏ, trong đó có những tàu trang bị đại bác với thủy thủ đoàn đông hơn cả những chiến hạm lớn nhất kiểu Tây Phương mà quân Nguyễn có.

Lực lượng Tây Sơn có đến 9 chiến hạm lớn (vaisseaux), trang bị 60 khẩu đại bác nặng 24 cân Anh, thủy thủ đoàn 700 người, 5 chiến hạm trang bị 50 đại bác nặng 24 cân Anh, thủy thủ đoàn 600 người và 40 chiếc trang bị 16 đại bác nặng 12 cân Anh, cùng thủy thủ đoàn 200 người.

Chỉ tính riêng 54 chiến thuyền cỡ lớn này đã đủ sức chuyên chở một lực lượng lên tới 17.300 quân và 1.430 khẩu đại bác, thuyền cỡ trung và cỡ nhỏ cũng theo các giáo sĩ phương Tây mô tả thì Vũ Văn Dũng có 93 chiếc trung bình trang bị 1 đại bác 36 cân Anh, 150 thủy thủ, 300 xuồng (chalopes cannonieres) 50 thủy thủ và 100 ghe, mỗi ghe 70 thủy thủ.

Đây là lực lượng thủy quân chính qui, ngoài đó Nguyễn Huệ còn chỉ huy những lực lượng lưu động bán chính thức quản lý kiểu chân rết theo kiểu bán độc lập, phân phong theo các khu vực lãnh hải là các nhóm hải phỉ khắp vùng Đông Nam Á, lên đến hàng ngàn chiến thuyền và hàng vạn người dùng trong nhiều nhiệm vụ quân sự và cả phi quân sự như buôn lậu, dò thám, trao đổi hàng hóa … khiến cho thực lực của Nguyễn Huệ có thể còn lớn hơn những gì người ta biết đến rất nhiều.

Những lực lượng này trải rộng khắp nơi và là một chỗ dựa quan trọng bên cạnh lực lượng chính qui Nguyễn Huệ sở hữu, cũng là một chỗ dựa để Nguyễn Huệ thực hiện những tham vọng to lớn của mình mà một chiến dịch quan trọng trong đó rất có thể là Chiến thắng Kỷ Dậu năm 1788.