Trận Kỷ Dậu 5: Giao tranh trên chiến trường truyền thông giữa nhà Thanh và Tây Sơn

Tình hình của đất Bắc Hà: Theo lời thuật của một giáo sĩ trong Hội truyền giáo Hải Ngoại thì Bắc Hà những năm đó chỗ nào cũng loạn lạc, nhưng mỗi nơi một ý, không thể tập hợp được thành lực lượng thống nhất, và cũng không ai đủ sức tập hợp họ lại thành một lực lượng thống nhất.

Vả lại việc nổi dậy phần lớn là vì “kiến nhi cơ tác” (Thấy thời cơ thì nổi binh) chứ cũng chẳng phải do ghét Tây Sơn hay có lòng vì nhà Lê. Có nhóm tự xưng con cháu nhà Lý, có người lại tự nhận là con cháu của cụ NGuyễn Bỉnh Khiêm mà sấm Trạng có đoán y là chân long thiên tử. Nói chung đây là thời kỳ loạn lạc, rồng rắn hỗn tạp, mỗi người đều có ý đồ riêng của mình, thành phần thực bụng có dạ hoài Lê có chăng cũng chỉ là giới sĩ phu hủ cựu không nắm giữ binh quyền. – Đặng Phương Nghi “Vài tài liệu mới Lạ về Nguyễn Huệ” (1992) tr 191

Điều này kỳ thực không phải là khó đoán, vì nếu, Bắc Hà lúc ấy các thế lực có lòng muốn tôn phò nhà Lê thực, thì Lê Chiêu Thống đã chẳng phải đi nhờ đến NGuyễn Hữu Chỉnh để về dẹp loạn, chẳng khác gì rước một con sói này để đuổi đi một đàn sói khác. Tình thế của nhà Lê kể từ thời Lê Chiêu Tông đến giờ luôn là trong tình trạng bi đát như thế.

Nói chung, các thế lực, dư đảng ở Bắc Hà có ở khắp nơi nhưng lập trường chưa rõ ràng, họ chưa hẳn đã đồng tình với quân Thanh hay muốn ở dưới quyền Chiêu Thống, muốn chống Tây Sơn hay muốn theo Tây Sơn. Đám người này sẽ sợ hãi kẻ mạnh, bị dụ dỗ bởi lợi ích mà phe mạnh hơn đưa ra.

Vì vậy, giao phong đầu tiên giữa quân Tây Sơn và quân Thanh của Tôn Sĩ NGhị chưa phải đã ở ngay trên chiến trường binh đao mà ở ngay trên … mặt trận tuyên truyền, hai bên dùng ưu thế của mình về quân sự và danh nghĩa để thu phục đám cỏ đầu tường này chống lại đối phương.

Đầu tiên là Càn Long lệnh cho tổng đốc Vân Nam – Quí Châu theo đường Mông tự phát hịch khắp nơi, hư trương thanh thế, vừa để hù dọa kẻ địch, làm sợ hãi những kẻ còn đang lung lay, và giả vờ để lộ ra cho Nguyễn Huệ một con đường sinh lộ:

“Bản bộ tổng đốc các tỉnh Vân Nam – Quí Châu cùng với tổng đốc Quảng Đông – Quảng Tây họ Tôn đều trông coi hai tỉnh, cùng phụng thánh chỉ đem quân tiễu trừ bọn giặc. Nghĩ đến tổ tiên trấn mục các người từ trước đến nay vẫn là bầy tôi họ Lê, nay đến cháu con lại không biết cùng đứng lên đồng tâm hiệp lực, vì tự tôn ngoài chống xâm lấn, trong sửa sang chánh sự, lại đem lòng phản chủ, theo kẻ thù, cam tâm làm điều tà bậy, đến nỗi Nguyễn tặc đuổi chủ làm loạn luân thường, tàn hại dân chúng, sưu cao thuế nặng, làm điều trái nghĩa.

Một khi đại quân đã hợp cùng tiễu trừ, bọn chúng khắc sẽ bị tiêu diệt ngay lập tức, còn đám dám hùa theo giặc, ắt sẽ bị nổi lên chém giết. Vì thế, nay ta truyền hịch cho các trấn mục bọn ngươi hãy nghĩ đến đại nghĩa, cùng nhau ra sức một lòng, chiêu tập binh dân, quét sạch nghịch tặc, ngênh đón chủ cũ, không những được tiếng trung với xã tắc mà còn sẽ được đại hoàng đế ân thưởng.

…….. Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, các ngươi vốn là bầy tôi nhà Lê, nay dám làm điều phản loạn, đem quân đuổi chủ, dân trong nước ai nấy đều phẫn hận, hiện nay Tôn tổng đốc đích thân dẫn đại binh tiễu trừ, lại có trấn mục Lạng Sơn là Phan Khải Đức cùng nhân mã bảy châu, thêm xưởng dân châu Văn Uyên là Hoàng Liêu Đạt, xã mục châu Thất Tuyền là NGuyễn Trọng Khoa, cùng kéo đại binh đi trước. Binh mã Lưỡng Quảng uy phong hùng tráng, liệu bọn yêu ma tiểu xú các ngươi, giơ càng bọ ngựa chống trả được sao, một khi bị bắt được sẽ lập tức tru diệt, còn chạy vào nơi núi rừng thì cũng sẽ bị dân chúng bắt lấy hiến cho vua Lê, quốc vương các ngươi trước bị đuổi đi, lẽ nào lại dung thứ?

Quảng Tây đã không còn đường cho các ngươi chạy, tội do chính các ngươi gây ra, nếu như sớm hối lỗi, cải tà qui chính, trói thân đến biên cảnh Vân Nam, bản bộ cũng sẽ đặc cách tâu lên hoàng đế gia ân, tha cho khỏi chết, cũng như trước đây An Nam di mục các ngươi là Hoàng Công Toản vì đắc tội vua Lê mà chạy qua, cũng được đại hoàng đế gia ân cho sinh sống nơi nội địa, đến nay bảo toàn được tính mạng

Hãy biết tức tốc quay đầu, bản bộ sẽ tâu lên hoàng đế mở cho một đường sinh lọ. Bản bộ ngưỡng vọng đức hiếu sinh của đại hoàng đế như trời, nên mới chỉ ra cho ngươi một con đường sống, họa phúc chỉ trong khoảnh khắc, chớ nên chần chờ, hãy vâng theo lời dụ này” – Thượng Dụ Đáng, CCBVV. Trang Cát Phát TTVC tr 359-360

NGoài ra còn có hai phong thư đích thân của Lê Duy Kỳ và Lê Duy Chỉ viết để cảm tạ ân xuất binh của thiên triều, hiện đang được lưu giữ trong thư khố, được Tôn Sĩ NGhị sử dụng để tăng thêm tính chính danh của lần xuất binh can thiệp này. (Dài quá nên mình không viết ra, nội dung đại khái là hạch tội Nguyễn Huệ và hết lòng ủng hộ và cảm kích lần xuất binh của nhà Thanh)

Còn căn cứ theo sử nước ta, khi tổng đốc Lưỡng Quảng Tôn Sĩ Nghị và tuần phủ Quảng Tây Tôn Vĩnh Thanh được lệnh vua Càn Long liền tung ra vài trăm tờ hịch tuyên bố xa gần được biết.

Hành động này đã có hiệu quả, tháng bảy năm Mậu thân (1788) viên thổ mục Lục Văn Minh đem một ngàn người tới cửa Quảng Tây tình nguyện làm quân tiên phong.

Đốc trấn Cao Bằng Chu Văn Uyển nghe tin quân Thanh kéo sang, đêm đó đem 300 quân tức tốc chạy về Thăng Long cấp báo, để NGuyễn Viễn Du, cai kỵ Chu Đình Lý ở lại Mục Mã giữ thành.

Tháng 8, thổ ti Mục Mã Bế Nguyễn Luật, Bế Nguyễn Hào tập hợp mấy trăm binh lính bắt giữ Nguyễn Viễn Du và Chu Đình Lý nộp cho Tôn Sĩ Nghị lập công, bảy châu huyện ở Văn Uyên thấy thanh thế quân Thanh quá lớn nên cũng nguyện ý đầu hàng, vẽ địa đồ bảy châu dâng lên.

Trấn thủ Lạng Sơn Phan Khải Đức và Trần Danh Bính nhận được tờ hịch của Tôn Sĩ Nghị cũng đầu hàng.

Ngoài ra các đầu mục xã Hoa Sơn, châu Thất Tuyền là NGuyễn Trọng Khoa và Nguyễn Trọng Đặng cũng đến Nam quan tình nguyện đem 700 binh đi đánh NGuyễn Huệ. Nhiều khu vực biên giới chấn động, không ít châu Huyện tự nguyện thần phục quân Thanh.

Để ứng phó với tình thế, Đại tư mã Ngô Văn Sở đầu tiên viết thư chiêu dụ Phan Khải Đức và Trần Danh Bính hai tướng trấn thủ Lạng Sơn. Nội dung thư mời xem: https://www.facebook.com/permalink.php?story_fbid=355982705148992&id=100022117962487

Bức thư này đã thành công chiêu dụ Trần Danh Bính trở về, giữ quân cản trở quân nhà Thanh, nhưng thất trận tại Trụ Hữu nên bị bắt giết.

Ngoài ra, Ngô Văn Sở cũng sai một số cựu quan nhà Lê là Tạ Đình Thực, cùng một số châu mục ở phía Bắc viết biểu gửi Tôn Sĩ Nghị, nội dung dịch như sau:

“Ngày 12/10 năm Càn Long thứ 53 (9/11/1788), chúng tôi tiếp nhận được hiểu dụ rằng bản quốc bị thổ mục đất Quảng Nam là Nguyễn Huệ chiếm cứ Lê thành, thần dân nhà Lê ai ai cũng nghĩ đến đức cũ, đồng lòng căm hận, đợi khi thiên binh qua ải tiễu trừ sẽ chia nhau ra để được chỉ huấn.

Ngưỡng mộ đại nhân có lòng chí nhân thương xót người bị nạn, đỡ đần kẻ ngả nghiêng, khẳng khái lấy điều họa phúc, danh nghĩa để chỉ bảo chúng tôi, thực hết sức cảm kích.

Trộm nghĩ vua Lê nước tôi thụ phong, thiên triều nghĩ đến vua nước dưới hơn ba trăm năm đời đời thừa kế, bọn chúng tôi là dân ăn lộc, chịu ơn vua, nay tự tôn một sớm mất cả xã tắc, lưu lạc bôn đào, hễ ai còn chút khí huyết không thể không chua xót. Thế nhưng bản quốc trước đây sở dĩ đổ nát, mối họa chẳng phải một ngày một buổi. Vua Lê mất hết quyền bính, việc cai trị giao cho họ Trịnh cả, đã mấy đời nay để cho yểm hoạn lộng quyền, chính pháp không ai gìn giữ, trong nước sinh ra biến cố, chẳng năm nào không, để đến xảy ra binh đao, năm Giáp Ngọ (1774), dân chúng Nam Hà khổ sở về sưu thuế, mệt mỏi chuyện binh đao, lại xây thành đắp lũy, mười phần chết đến bốn năm. Đến khi Trịnh Đống nắm quyền, loạn lạc lại càng quá lắm, quan tham lại nhũng, binh kiêu dân oán.

Chính vì thế mà anh em thổ mục đất Quảng Nam mới nổi lên, dân chúng cả một dải biển Nam bấy giờ mới tập hợp lại. Mùa hạ năm Bính Ngọ (1786) tiến quân đến thẳng kinh thành, hai bên giao chiến, phụ chính cũ là Trịnh Đổng bị thua, xuất bôn rồi chết ở lộ Sơn Tây, Nguyễn Huệ vào thành chiêu an, phủ dụ chẳng giết một ai, người nào quy hàng thì tiếp nhận khiến người đi theo càng lúc càng đông. Năm trước quốc vương Duy Đoan (tức Hiển Tông) già bệnh, Nguyễn Huệ đăng điện phù tá, dâng lên hộ tịch binh dân, xong việc lại trở về nam, người dân trong nước chạy theo không biết bao nhiêu mà kể.

Chẳng bao lâu tiền vương tạ thế, tự tôn Duy Kỳ kế vị, lại ngầm với phản thần của Nguyễn Huệ là Nguyễn Hữu Chỉnh đem quân vào kinh, Nguyễn Chỉnh chuyên quyền trị nước, khiến dân tình không theo, Kính Bắc, Hải Dương, Sơn Tây, Sơn Nam các nơi đâu đâu cũng nổi lên làm loạn, binh lửa không ngày nào dừng. Cố chủ bị Chỉnh mê hoặc, ra tay tru lục không kể gì, người người ngả nghiêng chẳng biết theo ai, ai nấy chạy đến NGuyễn Huệ xin đem binh dẹp loạn, khiến cho Nam binh lại trở ra, cố chủ bị Nguyễn Chỉnh ép bức, thua trận bỏ chạy.

Nguyễn Huệ vào đô thành, lập con thứ của tiền vương là Duy Cận làm giám quốc, hơn tháng lại trở về đất cũ. Thần dân nước tôi thấy con cháu vua cũ yếu hèn, không giữ nổi nước nên mời Nguyễn Huệ ở lại chăn dắt, dẹp an phản trắc, thật chẳng phải có ý nọ tâm kia, bỏ cũ thay mới, có điều sự thế thay đổi, kẻ yếu chẳng thể quyết sự tồn vong của mình, bản quốc vững vàng cũng là nhờ vào NGuyễn Huệ mới yên ổn, mấy lần muốn giữ lại nhưng Nguyễn Huệ bụng dạ khiêm nhường, quả là không có ý chiếm thành lấy nước.

Nay nghe đại nhân kể tội, e rằng chỉ là nghe những lời đồn, phần lớn chẳng phải chuyện thực, mẹ và quyến thuộc cố chủ mất nước hoảng hốt, đổ tội cho người, còn thần dân bản quốc thì bị cái tiếng chạy theo kẻ phản nghịch nên nay mới phải viết thư trình bày, mong việc được sáng tỏ, sợ danh bị hoen ố mà họa phúc đã cận kề, mong đại nhân đèn trời soi xét thông hiểu được tình cảnh ở xa, đoái thương đến thân phận chúng tôi mà miễn cho tội lỗi ….”

Ngoài ra, Ngô Văn Sở cũng yêu cầu Lê Duy Cẩn dâng biểu trình bày mọi việc để kêu gọi nhà Thanh bãi binh, bức thư đề ngày 22/10 năm Càn Long thứ 53 tức 19/11/1788, dịch nghĩa như sau:

“Chúng tôi nhận được hịch dụ về việc Nguyễn Huệ trộm đất đuổi chủ, việc liên quan trọng đại, thiên binh (ý nói quân Thanh) kéo sang sợ rằng ảnh hưởng đến sinh linh bản quốc không nhỏ, nên đứa con hèn của tiên vương là Duy Cẩn xin trình bày lại mọi việc trong nước, mắt thấy tai nghe, khó mà ngậm miệng không thưa, xin trình lên:

Tổ tiên nhà Duy Cần trước nay nhiều đời thờ phụng thiên triều, tuy vẫn kính cẩn triều cống nhưng thực ra uy phúc không có, hơn hai trăm năm qua quyền bính đều ở cả trong tay họ Trịnh. Đến khi cha của Duy Cẩn (Hiển Tông) tuổi già, người phụ chính trước là TRịnh Đống (Trịnh Tông hay Trịnh Khải) trông coi việc nước, tình hình rối ren, đất nước chia rẽ. Nguyễn Huệ ở biên thùy phía nam xã xôi, được một phương dân hòa, năm Bính ngọ (1786) kéo quân đến đô thành giao chiến với họ Trịnh, Trịnh Đống bại trận bỏ mình, Nguyễn Huệ đem binh dân hộ tịch trong nước giao lại cho thân phụ, một tháng sau trở về nam.

Cha của Duy Cẩn cắt đất Nghệ An để thưởng công, lại đem con gái gả cho. Chẳng bao lâu, thân phụ lại ngọa bệnh tạ thế, Nguyễn Huệ ủng lập tự tôn Duy Kỳ lên ngôi. Chẳng ngờ, Duy Kỳ lại âm mưu dụ dỗ phản thần của Nguyễn Huệ là Hữu Chỉnh đem binh vào bảo vệ. Chỉnh tác oai tác phúc, trong triều ngoài nội đều oán hận, Duy Kỳ nghe lời xúc xiểm làm chuyện tru lục, đem các chú mình là Lê Duy Lữ, Duy Lân, Duy Hội ném xuống giếng trong cung, Duy Cẩn cùng các thân tộc khác chẳng thể bảo vệ nổi mình nên phải chạy đến Nguyễn Huệ dựa dẫm mong được yên thân. Đến ngay cả các bề tôi ở ngoài triều như võ tướng Hoàng Phùng Cơ, vì thù riêng giết văn lão thần Dương Trọng Tế, ai nấy đều cảm thấy sợ hãi, vội vàng đến với Nguyễn Huệ để cầu đường sống.

Duy Kỳ lại bội ước cắt đất năm xưa, cùng với Chỉnh hợp binh gây rối ở Nghệ An, thành thử Nguyễn Huệ phải sai bảo gia tướng đem quân từ Thuận Hóa rong ruổi kéo vào tận kinh đô, phạt tội Hữu CHỉnh. Duy Kỳ bị Chỉnh ép phải bôn đào, Nguyễn Chỉnh thua trận mà chết, Duy Kỳ lưu lạc chẳng biết ở nơi đâu.

Tháng ba năm nay, Nguyễn Huệ tiến vào thành, chiêu an các quan lại đang tứ tán khắp nơi, hỏi người trong nước xem con cái vua trước có ai, các quan văn võ cùng bô lão viên mục mới xin Nguyễn Huệ ở lại trông giữ nước không để họ nhà Duy Cẩn nữa. Thế nhưng, Nguyễn Huệ là người lễ phép khiêm tốn, thấy Duy Cẩn là huyết mạch tiên vương, nên ủy nhiệm việc giám quốc, trông coi tế lễ, lại sợ thế lực yếu ớt, không quản nổi trong nước, nên để gia thần cầm quân ở lại trấn thủ, binh dân của Duy Cẩn nhất nhất trả lại cả, rồi dong quân trở về Thuận Hóa.

Chúng tôi đã từng đem tình hình trong nước sai quan ở biên tấu lên mọi việc nhưng viên mục giữ ải cầm quốc ấn trốn đi, thiên triều ở xa không rõ chuyện, thành ra quốc thư không đến được ….

….. Trộm nghĩ Duy Kỳ không giữ nổi xã tắc, đi rồi chẳng biết tung tích ra sao, còn Nguyễn Huệ quả không có ý chiếm đoạt, nay lại có người bịa đặt ra chuyện cướp nước lấy danh nghĩa bá cáo cho mọi người, lại tâu lên hoàng đế để đem mấy chục vạn quân binh các tỉnh, định thời hạn đem sang tiễu trừ, thần dân bản quốc các nơi chia nhau ứng phó, kẻ bất mãn trong nước lòng khấp khởi, chỉ vì người trong họ nhà Duy Cẩn bỏ nước mong lấy lại, gây chuyện can qua nên tâu lên thiên triều nguồn cơn.

Trộm nghĩ thân thuộc nhà Duy Cẩn có lẽ vì quá hung hăng mà đành lòng làm thế chứ bản quốc bốn, năm năm nay đói khổ điêu tàn chưa hổi phục được, một khi thiên binh nhập quốc, bầu nước giỏ cơm sợ không thể cung ứng nổi, dân chúng trẻ già lớn bé trốn hết thật không phải là điều thuận tiện cho lòng nhân ái của hoàng đế nơi phương xa.

Vậy xin tra xét rõ ràng mọi việc Nguyễn Huệ nhập quốc rồi lại trở về, cùng nguyên do việc thần dân bổn quốc cầu Nguyễn Huệ ở lại cai trị, để Duy Cẩn cùng văn võ bá quan tiếp lãnh quyến thuộc Duy Kỳ về nước.

Còn như duy Kỳ gây hấn đễn nỗi mất nước, nếu không chết cũng lưu lạc nơi đâu không có tin tức, mọi chuyện vì bản quốc mà đề đạt lên hoàng đế để truyền chỉ phân xử, miễn cho thần dân bản quốc cái khổ can qua, ấy là công đức thương xót, giải nạn của thượng hiển vậy. Duy Cẩn cùng toàn thể tông tộc vô cùng đội ơn, xin trình lên”

(Thư quá dài mình có lược bỏ một số đoạn không quan trọng, chi tiết xem tại Việt – Thanh chiến dịch Nguyễn Duy Chính)
===============
Nói chung thông tin trong các bức thư này không đủ đáng tin, có nhiều phần ngụy biện, nhưng cũng có thể cho chúng ta thêm vài thông tin quý giá, chẳng hạn như việc cắt đất Nghệ An.

Những bức thư này không đủ để Thanh triều lui binh, và đương nhiên là có lẽ các đầu não của Tây Sơn cũng không ngây thơ đến mức cho rằng dựa vào một vài bức thư trần tình này để mong Tôn Sĩ Nghị nói lý lẽ và rút lui, ngoại trừ lần chiêu dụ thành công Trần Danh Bính, Tây Sơn cũng không đủ gây ảnh hưởng lên các thế lực khác tại Bắc Hà đã theo quân Thanh. Tính ra lần giao phong trên mặt trận tuyên truyền này, Tây Sơn đã rơi vào thế hạ phong, hay ít ra vẻ ngoài là như thế.

Nhưng điều đó không có nghĩa mấy bức thư này là hoàn toàn vô dụng, nó là một chiêu bài ngoại giao, thể hiện lập trường “tiên lễ hậu binh” của Tây Sơn, cũng là điều mà Nguyễn Huệ sau này đã viện dẫn để đổ trách nhiệm xảy ra trận chiến Kỷ Dậu lên đầu quân Thanh mà đứng mũi chịu sào là Tôn Sĩ Nghị, để dùng đó thăm dò thái độ nhà Thanh và tiến tới các động thái ngoại giao, nghị hòa hậu chiến.

Đức Minh