Trận Kỷ Dậu 6: Chiến sự từ Lạng Sơn đến Thăng Long

Quá trình tiến binh từ Lạng Sơn đến Thăng Long của quân Thanh nhìn chung khá là thuận lợi.

Nhưng nói vậy không có nghĩa là quân Thanh không hề gặp sự chống trả nào, ở đây cũng phải nói đến địa hình phức tạp và hiểm trở ở biên ải khiến quân ta có khá nhiều ưu thế, địa hình dễ thủ khó công, và binh lực của quân Thanh cũng khó thể tập trung quy mô lớn để tiến hành cường công ở những nơi địa hình phức tạp như thế.

Tuy nhiên bất lợi đối với Tây Sơn đó là hầu hết các thổ quan trông coi biên ải đều đầu hàng và dẫn đường cho địch, chẳng hạn như ở Mai Pha, Gia Quan … nhất là ở cửa ải Lạng Sơn nơi yết hầu trấn thủ biên giới, Phan Khải Đức đã theo quân Thanh từ sớm, khiến cho vị trí ngõ hầu chiến lược này rơi vào tay quân Thanh.

Quân Thanh vượt sông Thị Cầu.

Trên đường dọc từ Lạng Sơn xuống Thăng Long, quân Tây Sơn đã xây dựng khá nhiều đồn lũy bằng gỗ, xung quanh đào hào cắm chông tre để làm chốt chặn, khi nghe tin quân Thanh tiến sang nội hầu Phan Văn Lân cũng đem lên đây 1000 quân để chỉ huy các phòng tuyến, chia nhau mai phục. Theo Thanh sử thì các chốt mai phục của Tây Sơn ít thì có 1,2 ngàn người, nhiều thì tới 3, 4 ngàn.

Nhưng thiết nghĩ thì đây chỉ là con số mà Tôn Sĩ Nghị chém gió lên cho chiến công thêm tiếng tăm hiển hách chứ thực sự quân Tây Sơn chỉ đóng từ vài chục đến vài trăm người mỗi chốt, dựa vào địa hình, bẫy rập để phòng thủ, tiêu hao địch, không giữ được thì ngay lập tức lui binh. Mấy cuộc giao tranh này, đến cả tòng vong của vua Lê cũng không ghi lại thì đủ biết không phải là những trận lớn, ngoại trừ vài vị trí hiểm yếu bố trí quân chính qui dựa vào ba con sông lớn là Thọ Xương, Thị Cầu, Phú Lương.

Sau khi dần dần hạ được một loạt các chốt chặn biên giới, ngày 13 tháng một năm Mậu thân (Tức 10/12/1788) tổng binh Thượng Duy Thăng, phó tướng Tôn Khánh Thành, tham tướng Vương Tuyên, du kích Tiêu Ứng Đắc, thủ vệ Trương Vân dẫn theo 1200 binh đến sông Thọ Xương tấn công phòng tuyến nơi đây.

Quân Tây Sơn chặt đứt cầu phao lui về giữ nam ngạn, quân Thanh chia hai nẻo, một kết bè làm cầu phao vượt sông Thọ Xương theo đường Gia Quan đánh xuống, một đường khác do Tổng binh Trương Triều Long đem 1500 quân từ đường núi tràn xuống Tam Dị tiếp ứng, quân Tây Sơn không chống nổi bắt buộc phải lui binh, một số rơi vào ổ phục kích bị bắt sống 79 người. Tiếp đó các ải Vân Long, Ha Hộ, Trụ Hữu (Do Trần Danh Bính trấn thủ) cũng lần lượt thất thủ, Trần Danh Bính, Lê Đình, Lật Toàn bị bắt, Trần Danh Bính bị xử tử.

Hay tin phòng tuyến sông Thương đã mất, nội hầu Phan Văn Lân đem binh lên giữ Thị Cầu, đóng trên các sườn núi và chỗ hiểm yếu tại bờ sông phía nam, thiết lập nhiều đồn lũy bằng tre, gỗ dọc theo bờ sông. Khi quân Thanh tiến xuống, Phan Văn Lân tập trung pháo bắn sang (Địa hình phía Bắc sông Thị Cầu thấp hơn bờ Nam).

Quân Thanh cố vượt cầu phao qua sông bị Phan Văn Lân chỉ huy binh sĩ chặn đánh và dùng thuyền nhỏ tập kích khiến quân Thanh phải lui lại, và chịu nhiều tổn thất, Vu Tông Phạm trúng đạn chết, Trần Thượng Cao, Trương Vân, thiên tổng Trần Liên trọng thương.

Hứa Thế Thanh vội sai quân đắp tường đất để chặn đạn, giữ phòng tuyến và lắp đại bác bắn ngược qua, nhưng phòng tuyến của Phan Văn Lân đã có chuẩn bị từ trước lại có ưu thế bắn từ trên cao xuống nên quân Thanh rơi vào thế bị động.

Nhóm quân phù Lê, và đám thổ quan rành rẽ đường ở đây hiến kế cho Tôn Sĩ Nghị cho binh vòng ra xa theo các đường nhỏ rồi quay lại tấn công quân Tây Sơn từ phía sau, Tôn Sĩ Nghị nghe theo một mặt giả vờ chuẩn bị làm thuyền và cầu nối vượt sông, một mặt lại sai Trương Triều Long đem 2000 quân nhờ đêm tối yểm trợ và thổ binh chỉ đường đi xuống 20 dặm rồi vòng ngược ra phía sau quân Tây Sơn đang giữ phòng tuyến.

Đến giờ sửu (2,3 giờ sáng) ngày 14/12/1788, quân Thanh hai mặt tập kích cả trước lẫn sau vào đại doanh của Phan Văn Lân, quân Tây Sơn tan vỡ, Phan Văn Lân chỉ huy binh sĩ bỏ đồn rút chạy về Thăng Long. Theo báo cáo của Tôn Sĩ Nghị, trận này quân Tây Sơn chết hơn 1000 người, bị bắt 500 người, chém đầu 423 người, tịch thu 34 khẩu đại pháo.

Ngày 17/12/1788, quân Thanh tiến vào Thăng Long, triều đình Lê Duy Cẩn lập tức ra hàng, quân Tây Sơn thì đã bỏ thành rút chạy từ sớm. Tài liệu của Hội truyền giáo Hải Ngoại ghi nhận:

“Ngày 13/11 (Đúng phải là ngày 12), hai người lính Bắc Kỳ thuộc quân đội Tây Sơn đã chạy trốn đến nơi chúng tôi và kể lại rằng quân Nam Kỳ đã bị đánh tan trong sáu cuộc chiến, một số lớn tử trận, số quân còn lại thì tẩu tán. Tin đồn này nhanh chóng tiếp đón nhiều tin đồn khác. Chiều ngày 15, 16 (Tức 18,19/1) đúng như báo cáo của quân Thanh vào tiếp thu thành Thăng Long, Đại Tư Mã (Ý nói Ngô Văn Sở) và các sĩ quan Tây Sơn khác đã rời bỏ thủ đô và chạy trốn, nhưng không thấy ai bị bắt cả”
=================
Về quân số, các tài liệu chép rất hỗn loạn, khi Nguyễn Huệ cho rút quân về Phú Xuân có để lại một số tì tướng trấn thủ Bắc Hà với số quân chính qui khoảng 3000 người (Có tài liệu chép là 8000). Miền Bắc có hai hệ thống, quan lại hành chánh dưới quyền giám quốc Lê Duy Cẩn và hệ thống quân sự do Ngô Văn Sở chỉ huy đảm nhiệm trị an Bắc Hà dưới quyền Nguyễn Huệ – Nguồn: Việt-Thanh chiến dịch

Tuy vậy lại có một số tài liệu ghi Phan văn Lân ở trận Thị Cầu huy động những 10 vạn quân trấn thủ thì quả là không biết lấy ở đâu ra(Các bạn có thể xem ngay từ wiki dẫn nguồn Việt sử toàn thư tr 384). Căn cứ theo truyền thống thích chém gió quân số của cả hai bên, địa thế sông Thị Cầu và ghi nhận tổn thất của quân Tây Sơn từ phía nhà Thanh, mình cho rằng con số 1000 quân giữ phòng tuyến Thị Cầu là hợp lý.
================
Như vậy là trong một thời gian rất ngắn, từ ngày mở cửa quan (25/11) đến ngày tiến vào Thăng Long (17/12), tức chưa đầy một tháng, Tôn Sĩ Nghị đã thành công chiếm giữ được Thăng Long, đánh bật quân Tây Sơn khỏi Bắc Hà, đồng thời thành công chiêu dụ nhiều thổ quan canh giữ biên ải, nhiều thế lực ở Bắc Hà gia nhập vào đoàn binh phù Lê, đưa quân Tây Sơn vào cảnh thân cô thế cô.

Tình hình tiếp theo, sau khi đã ổn định Bắc Hà, nếu Tôn Sĩ Nghị lập được tuyến đường vận chuyển binh lương sau đó hợp binh cùng Xiêm La, Nguyễn Ánh (Nhận được thư và lương thực Ánh gửi lên), Chân Lạp cùng thực hiện kế hoạch ba mặt giáp công, Nguyễn Huệ ắt sẽ rơi vào hiểm cảnh.

Tình thế lúc này nhìn qua có vẻ rất bất lợi với Tây Sơn, nhưng trong khó khăn, người tầm thường nhìn đâu cũng thấy điều bất lợi, trí giả sẽ nhìn ra cơ hội để lật ngược thế cờ.

Vậy, cơ hội của Tây Sơn ở tình thế này là gì?

Đầu tiên là việc các thế lực mang danh nghĩa phù Lê khắp nơi về đầu nhập khiến binh sĩ của Lê Chiêu Thống được tăng lên, nhưng đồng thời cũng gia tăng gánh nặng về quân lương, mà tình thế đói kém ở Bắc Hà mấy năm gần đó rất khốc liệt, điều này sẽ khiến cho dân chúng bất mãn, theo sử nhà Nguyễn ghi nhận:

“Bấy giờ luôn năm mất mùa đói kém, nhất là năm nay lại càng khổ sở. Quân lính nhà Thanh đóng ở kinh thành rông rỡ cướp bóc, dân chúng lại càng chán ghét. Triều đình đốc thúc lương quân, các châu, các huyện đều không cung ứng. Nhà vua (Duy Kỳ) bèn sai các quan chia nhau làm việc này. Dân chúng đến nỗi có người phải khóc lóc mà dâng nộp. Đường tiếp tế lương thực cho quân Thanh thì xa, nên bao nhiêu lương và tiền triều đình thu được của dân đều đem cung đốn cho họ hết sạch. Còn vài vạn người vừa nghĩa binh các đạo vừa ưu binh Thanh Nghệ thì đều lòng không dạ trống đi theo việc binh nhung, lòng người do đó càng chia rẽ tan tác”

Thêm vào đó là tình hình trị an ở Bắc Hà vốn đã rất yếu kém, sự có mặt của Tôn Sĩ Nghị và quân Thanh khiến một số người Hoa ở đất Bắc Hà (theo một số tài liệu là có cả quân Thanh) ỷ thế vào đó mà trở nên càn rỡ, cướp bóc hãm hiếp, giết chóc không kể gì cả, khiến cho cuộc sống của dân chúng vốn đã rất khổ sở thì nay càng trở nên khốn đốn hơn, điều đó vô tình đã phá luôn tính chính danh của nhà Lê, hay ít nhất là của Lê Chiêu Thống trong lòng dân Bắc, khiến cho việc Nguyễn Huệ lên ngôi sau này thuận lợi hơn rất nhiều.

Ngoài ra, trong tình trạng rồng rắn hỗn tạp, nhiều cánh quân theo về với danh nghĩa phò Lê theo lời kêu gọi của nhà Thanh và Lê Chiêu Thống, để thu phục nhân tâm và có binh tiến đánh Nguyễn Huệ, lai lịch, gốc gác những toán binh này cũng không thể được lịch duyệt kỹ lưỡng, đó là một cơ hội bằng vàng để quân Tây Sơn có thể cài cắm nội gián và thám báo của mình vào khắp nơi trong nội bộ hàng ngũ của quân địch.

Toán nội gián này ngoài việc có thể phát huy ra sức phá hoại rất đáng kể trong một số tình thế chiến đấu đặc thù thì còn có tác dụng thăm dò tin tức của quân Thanh và cánh quân của Lê Chiêu Thống. Điều đó có nghĩa, nếu suy đoán này của mình là chính xác thì từ lúc Tôn Sĩ Nghị dẫn quân vào tiến chiếm Thăng Long, toàn bộ thông tin về: quân số, thành phần binh sĩ, vũ khí, vị trí phân bổ các đội quân, cách thức liên lạc, tuyến đường truyền tin, chuyển quân và vận lương của quân Thanh đều đã lộ ra trong tầm mắt của Nguyễn Huệ, điều này góp phần lý giải tại sao khi NGuyễn Huệ chỉ huy binh sĩ tiến công trong trận Kỷ Dậu lại thuận lợi đến như vậy, các cánh quân của Tôn Sĩ Nghị rơi vào trạng thái hoàn toàn bị động, chia cắt, không thể hô ứng, cứu viện lẫn nhau, dẫn đến một thất bại dây chuyền mà có lẽ chính Tôn Sĩ Nghị cũng không thể hiểu được mình đã sai lầm ở điểm nào.

Đức Minh