Vì sao có trại Davis trong phi trường Tân Sơn Nhứt?

Mỗi lần có ai nhắc về bản Hiệp Định Paris năm 1973 thì ít nhiều phải biết đến một địa danh nổi tiếng liên quan đến việc thi hành bản Hiệp Định, đó là trại Davis (người Việt đọc là Đê Vít hoặc Đa Vít).

Nguyên là một trại lính Hoa Kỳ ở gần sát phía tây nam phi trường Tân Sơn Nhứt (Nhứt, không phải Nhất), phía tây giáp với phi cảng (nay thuộc phường 4, quận Tân Bình, TP Hồ Chí Minh) và nằm trong khu vực quân sự.

Khởi thủy trại là nơi cư trú của Đơn vị 3 Viễn Thám (3rd Radio Research-RR) Lục Quân Hoa Kỳ. Công tác của đơn vị khi đó chỉ thuần cố vấn và trợ giúp chuyên môn cho Nha An Ninh Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa (chưa đổi danh xưng thành Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa-QLVNCH).

Đơn vị 3 Viễn Thám cư trú ở đây cho đến năm 1966 thì được thay thế bởi đơn vị 509th Radio Research Group-RRG. Cuối năm 1972 đơn vị 509th RRG rút về nước, trại bị bỏ hoang.

* Khi Hiệp Định Paris ra đời (ký ngày 27 tháng 01 năm 1973), đại diện của bốn bên gồm Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng Hòa, Cộng Sản Bắc Việt (Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa) và Việt Cộng (Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam) đã thỏa thuận (Khoản d trong Điều 16 Chương VI), chọn trại lính bỏ hoang kể trên là địa điểm làm việc.

Lý do được chọn: Vì nằm trong phi trường Tân Sơn Nhứt (thuận tiện cho những chuyến bay chuyên chở phái đoàn đi công tác trong cự ly ngắn (bằng trực thăng) hoặc ra tận miền Bắc (bằng máy bay C130) và vì đơn giản: Đang có một trại bỏ hoang không dùng nhưng vẫn còn nhiều tiện nghi.

Trại Davis là nơi làm việc của phái đoàn 4 bên và riêng 2 phái đoàn Cộng sản Bắc Việt-Việt Cộng được sắp xếp ở chung trong những dãy nhà trong khu vực của trại.

* Tại sao trại này có cái tên là Davis?

Báo chí trong nước thường nói đó là tên của người lính Mỹ đầu tiên bị chết tại Việt Nam.

Người lính Mỹ tên Davis đó như thế nào, chết ở đâu, khi nào và trong trường hợp nào?

Davis, tên đầy đủ là James Thomas Davis, người gốc Caucasian, sinh ngày 1 tháng 6 năm 1936 tại Livingston tiểu bang Tennessee.

Thụ huấn quân trường ở Fort Jackson, South Carolina, Davis chuyển sang học ở Fort Devens, Massachusetts nơi mà Davis hoàn tất các khóa học của trường An Ninh Lục Quân Hoa Kỳ.

Chuyến đi hôm đó là một công vụ viễn thám dò tìm các vị trí truyền tin liên lạc của Việt Cộng. Bằng những máy móc chuyên môn, Davis sẽ dò tìm các làn sóng truyền tin của đối phương trong vùng để từ đó lần tìm được chính xác các vị trí đóng quân của Việt Cộng.

Tìm được, Davis sẽ báo cho Nha An Ninh Quân Đội biết. Nơi Davis thường đến là Đức Hòa thuộc tỉnh Hậu Nghĩa. Đức Hòa trong thời gian Davis công tác là một vùng dân cư thưa thớt, nhiều chỗ còn những cánh rừng rậm. Đi và về đều đặn nên Việt Cộng tại địa phương đã biết rõ các chuyến công tác của Davis.

Một cuộc phục kích đã được dàn dựng. Địa lôi được chôn giữa mặt lộ đất đỏ. Một nhóm du kích Việt Cộng (không rõ số lượng) đã phục kích dọc theo hai bên đường. Khi chiếc xe băng qua, quả mìn được kích hỏa nổ tung ở phần đuôi hất chiếc xe bay cách xa 30 bộ chỗ vừa nổ.

Davis nhẩy ra khỏi cabin và tập trung các binh sĩ còn sống trong một nỗ lực đáp trả lại đối phương. Phía Việt Cộng đông hơn và, dù can đảm, sự kháng cự của Davis rất ngắn ngủi chỉ sau bốn hoặc năm loạt đạn trước khi bị một viên đạn găm vào người.

Các binh sĩ miền Nam VNCH còn lại cũng chung một số phận ngắn ngủi sau đó. Nghe tiếng súng, một đơn vị Dân Vệ VNCH có mặt cách đó khoảng 1 dặm đã vội đến tiếp ứng nhưng du kích Việt Cộng đã biến mất vào các cánh rừng.

Thi thể của Davis, nằm trên mặt lộ một giờ đồng hồ cho đến khi được trực thăng tải thương về lại trại.

Ngày 10 tháng 01 năm 1962, đồng đội trong 3rd RR nhanh chóng lấy tên Davis đặt cho đơn vị và trở thành trại lính đầu tiên được đặt tên từ một chiến binh Hoa Kỳ vừa nằm xuống ở Việt Nam.

Họ dựng một khu tưởng niệm Davis nho nhỏ trong trại. Nơi nầy, có cả một bảng đồng về Davis. Từ đây khu trại có tên Davis Station rồi sau đó được gọi là Davis Camp.

Cuối năm 1972, Nha An Ninh Quân Đội đã bỏ trống trại Davis. Khi Hiệp Định Paris 1973 ra đời, trại Davis là nơi làm việc của phái đoàn 4 bên và là nơi cư trú của 2 phái đoàn CS Bắc Việt-Việt Cộng như đã kể trên.

Tí Conuong